Tải Free Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi => 9Điểm

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi
Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi

Có phải bạn đang tìm Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi? Ngay bây giờ đây mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn nguồn tài liệu hoàn toàn hữu ích cho nên các bạn hãy cùng mình xem và tham khảo nhé. Nguồn tài liệu mình đã tiến hành triển khai như là khái quát chung về nuôi con nuôi,điều kiện nuôi con nuôi,thủ tục và thẩm quyền đăng ký nhận nuôi con nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi,chấm dứt nuôi con nuôi… Hy vọng nguồn tài liệu này sẽ mang đến cho bạn thật nhiều kinh nghiệm để bạn có thể nhanh chóng triển khai tốt bài khoá luận của mình.

Trước đây chúng tôi đã từng viết bài top 90 đề tài khoá luận tốt nghiệp luật hôn nhân và gia đình hoàn toàn xuất sắc các bạn có thể xem và tham khảo nhé.Ngoài ra, hiện nay bên mình có nhận viết thuê khoá luận với đa dạng các đề tài phổ biến nhất hiện nay, nếu như bạn đang có nhu cầu cần viết thuê một bài khoá luận thì đừng chần chừ nữa mà thay vào đó là hãy tìm đến ngay dịch vụ viết thuê khoá luận tốt nghiệp qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ từ A đến Z nhé.

1. Khái quát chung về nuôi con nuôi

1.1.Khái niệm nuôi con nuôi

Trong xã hội, ngoài những trẻ em có điều kiện nuôi dưỡng đầy đủ từ cha mẹ, bên cạnh đó, còn có những trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật và sống trong một môi trường không có điều kiện nuôi dưỡng cần có một mái ấm gia đình thay thế. Khái niệm về nuôi con nuôi đã tồn tại từ lâu trong xã hội. Một trong những biện pháp bảo đảm cho trẻ em một mái ấm gia đình đó chính là nhận nuôi con nuôi.

Theo từ điển Bách khoa, “Nuôi con nuôi là việc một người (người nuôi) nhận nuôi người khác (con nuôi) nhằm tạo ra những tình cảm gắn bó giữa hai người, bảo đảm cho người con nuôi được thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt. Việc nhận nuôi con nuôi do Ủy ban nhân dân xã phường thị trấn nơi người nuôi và của con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Thông qua sự kiện pháp lý này, giữa người nuôi và con nuôi phát sinh các quyền và nghĩa vụ như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ”[1]

XEM THÊM : Viết Thuê Khoá Luận Tốt Nghiệp 

Trong các văn bản pháp lý, khái niệm về nuôi con nuôi trước đây đã từng đề cập trong các tài liệu liên quan nhưng khi Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời thì khái niệm đã được chính thức luận định rõ nhằm tạo nên một khái niệm chung để có thể hiểu rõ mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi. Qua đó, Luật nuôi con nuôi năm 2010 có nêu rõ khái niệm về con nuôi và cha mẹ nuôi như sau: “Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng kí”. Khái niệm trên có thể hiểu được việc nuôi con nuôi chính là một người khác nhận nuôi một người nhưng hai bên đều không có quan hệ huyết thống mà được xác lập mối quan hệ con nuôi và cha mẹ nuôi thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người con nuôi sẽ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và phát triển từ cha mẹ nuôi và mối quan hệ này sẽ có thể lâu dài vì mang tính nhân đạo sâu sắc.

“Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí”. Người nhận nuôi có thể là một cặp vợ chồng hôn nhân hợp pháp hoặc cũng có thể là người độc thân có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi dưới góc độ xã hội, việc nhận nuôi con nuôi xuất phát từ nhiều lý do như: người nhận nuôi không có con và họ mong muốn có con thông qua việc nhận nuôi; xuất phát từ tấm lòng yêu thương và đồng cảm với những đứa trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, không có mái ấm gia đình trọn vẹn; từ phong tục tập quán của địa phương,…Mặc dù đã hình thành quan hệ cha mẹ con và các bên đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ cha mẹ con đối với nhau nhưng do các bên không đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ nuôi con nuôi không được công nhận về mặt pháp lý. Trên thực tế, quan hệ nuôi con nuôi này mặc dù không có sự công nhận của nhà nước có thẩm quyền nhưng vẫn tồn tại mối quan hệ giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi.

Dưới góc độ xã hội, quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi được xác lập trên thực tế giữa người nhân nuôi con nuôi và người được nhận nuôi đáp ứng nhu cầu về tình cảm và lợi ích giữa các bên mà không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như nuôi con theo phong tục tập quán, nuôi con nuôi lập tự, nuôi con nuôi trên danh nghĩa,…

          Dưới góc độ pháp lý, con nuôi có thể hiểu là sự kiện pháp luật hoặc là quan hệ pháp luật. Việc nuôi con nuôi được công nhận là hợp pháp thông qua quyết định của cơ qua nhà nước có thẩm quyền khi các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí của mình đồng thời đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết của việc nhận nuôi con nuôi. Vì vậy, có thể hiểu qua góc độ pháp lý thì việc nhận nuôi con nuôi là mội sự kiện pháp lý, là một người hoặc hai người là vợ chồng nhận nuôi một người khác mà họ không sinh ra hoặc không có quan hệ huyết thống nhằm xác lập mối quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu việc xác lập mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi là mối quan hệ lâu dài và bền vững thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên đều có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Chỉ khi có sự kiện nuôi dưỡng, mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi được xác lập. Việc xác lập quan hệ pháp lý này phát sinh giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi đầy đủ giữa quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi không phân biệt đối xử giữa cha mẹ đẻ với cha mẹ đẻ, con nuôi với con đẻ. Các bên đều được đối xử như nhau và việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Sự ra đời của Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã tạo điều kiện cho các cá nhân, gia đình có nhu cầu muốn nhận nuôi con nuôi và đồng thời cũng tạo cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được sống trong một mái nhà có điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển cho tương lai.

XEM THÊM :Top 99 Đề Tài Khoá Luận Luật Doanh Nghiệp

1.2.Đặc điểm nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, yếu tố tình cảm là yếu tố đầu tiên chi phối quyết định nhận con nuôi

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi nuôi con nuôi xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nhưng yếu tố chi phối đầu tiên chính là yếu tố về mặt tình cảm, bởi lẽ, việc nuôi con nuôi thực tế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi hình thành mối quan hệ cha mẹ con, các bên đã thực hiện việc chăm sóc và nuôi dưỡng trên thực tế về mặt tình cảm. Và chỉ khi, nuôi con nuôi xuất phát từ yếu tố tình cảm thì mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi mới có thể xây dựng mối quan hệ ngày càng bền vững.

            Thứ hai, Nuôi con nuôi là quan hệ lâu dài và bền vững. Mối quan hệ giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi đã xuất phát yếu tố tình cảm từ hai bên trước khi đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Các bên đã xây dựng tình cảm, tình yêu thương gắn kêt giữa cha mẹ nuôi và con nuôi trên tinh thần tự nguyện mà không bị tác động từ yếu tố bên ngoài.

            Thứ ba, trong quan hệ nuôi con nuôi, các bên tự giác thực hiên quyền và nghĩa vụ. Nuôi con nuôi xuất phát từ ý chi và nguyện vọng của các chủ thể, Nhà nước không thể áp đặt hoặc ép buộc các bên tham gia vào mối quan hệ nuôi con nuôi nếu như hai bên không mong muốn. Từ đó, mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi xây dựng mối quan hệ tình cảm và gắn bó bền vững chung một mái nhà nên các quyền và nghĩa vụ giữa các bên được xuất phát từ ý chí và nguyện vọng mà không có tác động từ yếu tố bên ngoài.

            Thứ tư, nuôi con nuôi không mang yếu tố đền bù ngang giá.  Mục đích của việc nuôi con nuôi là giúp cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mồ côi, cơ nhỡ nhằm có được một mái ấm, một gia đình thay thế được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường lành mạnh góp phần hình thành và phát triển sau này. Điều này không chỉ xuất phát vì yếu tố tình cảm từ cá nhân và gia đình mà còn thể hiện được tấm lòng nhân đạo đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, … Cho nên, vấn đề đặt ra ở đây mang tính bảo vệ và đặt lợi ích của trẻ em luôn được ưu tiên xem xét trước lợi ích của cha mẹ nuôi.

1.3.Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời cũng như quy định mục đích của nuôi con nuôi cũng thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tình yêu thương con người, tinh thần tương thân tương ái giữa con người với con người. Thời gian qua, có rất nhiều trẻ em bỏ rơi khi vừa mới sinh ra, trẻ em bị dị tật bẩm sinh, trẻ em bị di chứng do ảnh hưởng của chiến tranh, …Vì vậy, việc các em được nhận nuôi có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ riêng cuộc đời các em mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội. Ngoài ra, việc nhận nuôi con nuôi cũng giúp cho những người đơn thân, gia đình hiếm muộn mong muốn có con để họ có chỗ dựa tinh thân để có một mái ấm trọn vẹn. Có thể nói Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên về việc nuôi con nuôi. Vì vậy, dù cho hoàn cảnh nào thì cũng phải đảm bảo mục đích là vì tương lai trẻ em và tương lai của đất nước.

2.Điều kiện nuôi con nuôi

2.1.Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Để bảo vệ tốt quyền lợi và lợi ích chính đáng của trẻ em khi được nhận là con nuôi cần có những quy định của pháp luật điều chỉnh, trong đó có quy định về các điều kiện của việc nuôi con nuôi.

            Theo quy định của Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì người được nhận làm con nuôi phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Thứ nhất, “Trẻ em dưới 16 tuổi”

Thứ hai, “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi”.

Quy định này đảm bảo việc nuôi con nuôi phù hợp nguyên tắc người được nhận nuôi được sống trong gia đình gốc của mình vì đây là mối quan hệ chung huyết thống và mối quan hệ họ hàng. Ngoài ra, trẻ em ở độ tuổi này đã có thể tự xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản. Những giao dịch này là những giao dịch lớn cần có người giám hộ đồng ý và chỉ những người thân thích với trẻ có quan hệ họ hàng hoặc quan hệ huyết thống để tránh phần nào mục đích trục lợi của người nhận nuôi.

Thứ ba, “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”.

Quy định này chỉ cho phép người được nhận làm con nuôi chỉ được chỉ có quan hệ nuôi con nuôi đối với một người hoặc một đôi vợ chồng, hay nói cách khác, người đó không thể là đồng thời là người được nhận làm con nuôi trong hai mối quan hệ nuôi con nuôi khác nhau. Ví dụ, nếu A là con nuôi của B và C thì B và C phải là vợ chồng. Nếu B và C không là vợ chồng thì A không thể đồng thời là con nuôi của B và C. Bên cạnh đó, nếu như một người là chồng hoặc một người là vợ mà không có sự thỏa thuận hoặc đồng ý của người còn lại thì việc nhận nuôi con nuôi sẽ không được chấp nhận. Quy định này nhằm đảm bảo cho trẻ được nhận nuôi trong một môi trường gia đình trọn vẹn. Ngoài ra, trẻ nhận nuôi sẽ có được sự chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ đồng thời cả bố và mẹ từ đó giúp nhân cách cho trẻ ngày hoàn thiện hơn.

2.2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

            Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi được quy định như sau:

Thứ nhất, “Người nhận nuôi con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ:

Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự[2]. Đây là một quy định cần thiết bởi lẽ chỉ khi người nhận nuôi con nuôi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, họ mới có thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình, góp phần đảm bảo người con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt. Nếu người nhận con nuôi thuộc các trường hợp khác, họ không thể tự chăm sóc bản thân mình, theo đó, họ cũng không thể chăm sóc con nuôi và cho con nuôi cuộc sống tốt đẹp hơn được.

Thứ hai, “Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”

Pháp luật không quy định số tuổi tối thiểu nhưng lại quy định về chênh lệch độ tuổi tối thiểu giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi. Sự chênh lệch độ tuổi này đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục có hiệu quả từ người nhận nuôi con nuôi đố với người được nhận nuôi. Ngoài ra, còn đảm bảo được cách ứng xử trong gia đình hợp với lẽ sống, truyền thống văn hóa giữa các bên với nhau.

Thứ ba, “Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi mỗi người trưởng thành cần tự lập trong cuộc sống, tự lo liệu cho bản thân, đồng thời góp phần phát triể kinh tế xã hội. Họ cần tự chăm sóc cho bản thân mình, không để bản thân trở thành gánh nặng của xã hội trước khi họ chăm sóc cho người khác. Điều kiện đối với người nhận con nuôi bao gồm đầy đủ cả sức khỏe, kinh tế, chỗ ở. Sức khỏe của người nhận nuôi không được tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến việc việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Đồng thời, người nhận nuôi con nuôi phải đủ điều kiện kinh tế và tài chính vì nếu không đáp ứng được điều kiện này thì chất lượng cuộc sống của con nuôi không được đảm bảo thì việc nuôi con nuôi không còn ý nghĩa, mục đích không đạt được. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để đảm bảo cho người con nuôi được sống và nuôi dưỡng trong một môi trường lành mạnh, thuận lợi cho việc phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ.

Thứ tư, “Có tư cách đạo đức tốt”

“Cha mẹ là tấm gương phản chiếu lại tính cách và nhân cách của mỗi người con”, bời vì tư cách đạo đức của bố mẹ nuôi có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của trẻ, đặc biệt là trẻ nhỏ tuổi, khả năng nhận thức chưa ổn định. Những lời nói, hành động, tác phong của cha mẹ là những bài học thường xuyên mà trẻ được tiếp nhân. Cha mẹ giáo dục tốt sẽ giúp con cái có hành trang tốt hơn trong quá trình hình thành và phát triển tính cách, cách quan tâm đến những người xung quanh, cách xử lý các vấn để trong cuộc sống.

            Để đảm bảo điều kiện của người nhận nuôi con nuôi, Khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định những người không được nhận nuôi con nuôi thuộc trong các trường hợp:

“- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

– Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh như trại cai nghiện, trại cải tạo, cơ sở phục hồi nhân phẩm…

– Đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo.

– Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”.

            Các điều kiện trên nhằm đảm bảo cho người nuôi con nuôi có đủ khả năng nhận nuôi, người con nuôi được sống trong môi trường tốt, đồng thời cũng tránh những ảnh hưởng không tốt từ phía người nhận nuôi đối với người được nhận nuôi, ngăn chặn những khả năng xấu có thể xảy ra đối với người được nhận nuôi do sự lệ thuộc của người được nhận nuôi vào người nhận nuôi. 

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi là một mớ nguồn tài liệu thì mình đã tiến hành triển khai như là khái quát chung về nuôi con nuôi với lại điều kiện nuôi con nuôi hoàn toàn hay thì mình đã triển khai đến cho các bạn cùng xem và tham khảo. Chưa dừng lại ở đây, nếu bạn đang cần thêm nguồn tài liệu thì hãy cùng mình xem và theo dõi hết phần còn lại nhé.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi
Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi

3.Thủ tục và thẩm quyền đăng ký nhận nuôi con nuôi

3.1.Thủ tục đăng ký nhận con nuôi

Đăng ký nhận nuôi con nuôi là sự tuân thủ các điều kiện nuôi con nuôi của các bên, việc đăng ký nuôi con nuôi mới làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi. Đăng ký nuôi con nuôi được thực hiện đúng góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong việc nuôi con nuôi và đăng ký nuôi con nuôi cũng là một thủ tục để công nhận việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý. 

Lập và nộp hồ sơ nuôi con nuôi bao gồm:

Điều 17 Luật NCN 2010, Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định về hồ sơ của người nhận con nuôi bao gồm

“- Đơn xin nhận con nuôi.

– Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.

– Phiếu lý lịch tư pháp.

– Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.

– Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp trừ cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi.

Trường hợp người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi và không cùng thường trú tại một địa bàn xã, thì việc xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được thực hiện như sau:

  1. Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, thì văn bản về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi do Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú xác nhận.
  2. Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, thì công chức tư pháp – hộ tịch xác minh hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi.

       Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi được quy định tại Điều 18 Luật NCN 2010, “Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng và hồ sơ của người được nhận làm con nuôi bao gồm:

– Giấy khai sinh.

– Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.

– Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.

– Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự.

– Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng”.

            Những giấy tờ này nhằm xác định người có quyền cho trẻ làm con nuôi và làm rõ tình trạng của trẻ em tránh những tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, không rõ nguồn gốc. Người thực hiện lập hồ sơ đăng ký nếu trẻ em sống trong gia đình thì do cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đăng ký còn trẻ em sống trong cơ sở nuôi dưỡng thì do Cơ sở nuôi dưỡng đó thực hiện.

  • Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi

“Người nhận nuôi con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi phải nộp hồ sơ của cả hai tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người nhận nuôi con nuôi thường trú hoặc nơi người giới thiệu làm con nuôi thường trú. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ”.[3]

      Theo Điều 20 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tiến hành xong việc lập ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này. Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến”.

Hướng dẫn chi tiết về quy định này, Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định:

“1. Khi kiểm tra hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch phải nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ, thì công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi.

  1. Khi lấy ý kiến của những người liên quan theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Luật Nuôi con nuôi, công chức tư pháp – hộ tịch phải tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình.

Trường hợp cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì công chức tư pháp – hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi con nuôi; quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi đăng ký nuôi con nuôi; về việc cha mẹ đẻ sẽ không còn các quyền, nghĩa vụ đối với con theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật Nuôi con nuôi, nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác.

  1. Trường hợp những người liên quan do chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu rõ những vấn đề được tư vấn hoặc bị ảnh hưởng, tác động bởi yếu tố tâm lý, sức khỏe đã đồng ý cho trẻ em làm con nuôi sau đó muốn thay đổi ý kiến, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được lấy ý kiến, những người liên quan phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi. Hết thời hạn này, những người liên quan không được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi”.

Điều 22 Luật NCN 2010 quy định: “Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi”.

Theo Nghị định 24/2019/NĐ-CP: “Căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, theo yêu cầu của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của con nuôi theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về hộ tịch. Việc bổ sung, thay đổi thông tin về cha, mẹ trong Giấy khai sinh của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.

3.2.Thẩm quyền giải quyết đăng ký nhận nuôi con nuôi

Đăng ký nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật bảo vệ. Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP cũng đã có hướng dẫn chi tiết về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi đối với từng trường hợp. Cụ thể như sau:

“Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi. 

Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất đối với họ”.  

4.Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi

Sau khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quan hệ nuôi con nuôi có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi. Từ đó hệ quả của việc nuôi con nuôi các quan hệ giữa người nuôi và người được nhận nuôi, giữa người được nhận nuôi với các thành viên khác trong gia đình của người nhận nuôi và giữa người được nhận nuôi với gia đình gốc được xác định. Vì vậy, quy định này đảm bảo các bên có quyền và nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ yêu thương và tôn trọng nhau.

“Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi”.[4] 

5.Chấm dứt nuôi con nuôi     

Việc chấm dứt nuôi con nuôi cũng như bất kì sự kiện hộ tịch nào khác đều phải dựa vào căn cứ pháp lý nhất định. Theo đó, căn cứ chấm dứt việc nhận con nuôi được quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 bao gồm các trường hợp như sau:

“- Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”.

Khi con nuôi đã thành niên, con nuôi có thể tự nuôi sống chính bản thân mình, tự làm chủ nhận thức, hành vi của mình. Căn cứ để chấm dứt là khi con nuôi đã thành niên, có thể tự nuôi sống chính bản thân mình, có đủ khả năng nhận thức và có thể sống tự lập. Đồng thời, cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi. Khi đó quan hệ nuôi con nuôi có thể chấm dứt. Sự tự nguyện của các bên là một trong những căn cứ quan trọng, nhằm tránh sự ép buộc phải chấp nhận để chấm dứt quan hệ nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi và con nuôi.

“- Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.

– Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi”.

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi việc nuôi con nuôi nhằm mục đích giúp cho cha mẹ nuôi thỏa mãn nhu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi, đồng thời con nuôi cũng được nuôi dưỡng, chăm sóc bởi cha mẹ nuôi. Tuy nhiên, khi con nuôi đã có các hành vi gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của một trong hai bên và đã bị kết án thì quan hệ nuôi dưỡng cần được chấm dứt để đảm bảo quyền lợi của bên được xâm phạm.

Những quy định trên pháp luật quy định cấm vì vi phạm nghiêm trọng đến mục đích của việc nuôi con nuôi, phong tục tập quán

– Trường hợp vi phạm quy định tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 là các trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật nuôi con nuôi, bao gồm:

“+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.

+ Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.

+ Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.

+ Nhà nước có quy định chính sách về dân số là mỗi gia đình chỉ được có hai người con. Nhưng vì gia đình muốn có thêm con mà lại sợ vi phạm chính sách dân số của Nhà nước nên cha mẹ ruột đã cho một bé làm con nuôi của một gia đình khác để có thể sinh thêm một bé khác. Vì vậy Nhà nước đã cấm hành vi lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.

+ Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

+ Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.

+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”.

Các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 26 Luật NCN 2010:

“- Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

– Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi trừ trường hợp cha mẹ nuôi và con đã thành niên tự nguyện chấm dứt:

+ Cơ quan lao động, thương binh và xã hội

+ Hội liên hiệp phụ nữ”.

Như vậy, nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì sẽ có căn cứ chấm dứt nhận nuôi con nuôi.

Khi quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt thì sẽ làm phát sinh các hệ quả sau theo quy định tại Điều 27 Luật NCN 2010, cụ thể như sau:

“Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

 Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật NCN 2010, bao gồm  quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi được khôi phục.

Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi”.

Trên đây là toàn bộ Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Nuôi Con Nuôi với những nội dung hữu ích sẽ mang đến cho bạn thật nhiều kinh nghiệm và kiến thức đa dạng để bạn có thể nhanh chóng triển khai đến cho các bạn cùng xem và theo dõi. Chúc các bạn xem được bài viết xem được bài viết này sẽ nhanh chóng hoàn thành được bài khoá luận của mình trong thời gian sắp tới. Cho nên nếu như bạn có nhu cầu cần viết thuê một bài khoá luận hoàn chỉnh nhưng bạn đang lo lắng vì chưa có nhiều thời gian để hoàn thành,không sao cả, ngay bây giờ đây hãy liên hệ ngay đến dịch vụ viết thuê khoá luận tốt nghiệp của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 3, NXB từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003, tr.316

[2] Theo BLDS 2015, “Người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi”, “Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự”, “người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình” và tòa án có quyết định tuyên bố các trường hợp này

[3] Điều 19 Luật NCN 2010

[4] Điều 24 Luật NCN 2010

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*